VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P19)

By
Một nguyên nhân khác là công tác khuyến nông và thông tin khoa học kỹ thuật nông nghiệp trong nhiều năm qua chưa thực sự gắn với lao động nữ, chưa giúp lao động nữ tiếp cận với thông tin và tri thức mới để nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. Các chương trình khuyến nông được xây dựng nặng về kỹ thuật, chưa quan tâm đến đối tượng tiếp thu và thực hành chính ở nông thôn là phụ nữ. Dự án huấn luyện nông dân về quản lý dịch hại tổng hợp ( IPM) do Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức với sự giúp đỡ của tổ chức Nông lương thế giới (FAO) trong 3 năm 1991-1994 ở 20 tỉnh đã thu hút được 32.770 nông dân tham gia. Tuy nhiên, những dự án đào tạo quan trọng và cần thiết như vậy mới chỉ lôi cuôn được 4.359 phụ nữ, chiếm 13,3%(*) .
Ngoài những vấn để nêu trên, khó khăn lớn đôi với nông dân, nhất là phụ nữ là thị trường, đặc biệt là thị trường tiêu thụ nông phẩm. Thời gian qua, Nhà nước chưa thể hiện đầy đủ vai trò điều tiết của mình trong những lĩnh vực như khai thác thị trường, bảo hộ giá nông phẩm, bảo hiểm mùa màng, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Trong khi đó, mạng lưới tư thương chưa đủ kích thích về lợi nhuận để với tới thị trường xa, nh ở ; hoặc chỉ quan tâm tới những lợi ích cá nhân trước mắt mà thiếu ý thức xây dựng quan hệ bạn hàng lâu dài với nông dân.
Sự chênh lệch về thu nhập còn có thể giải thích bằng sự khác biệt về phân bô" thời gian lao động trong ngày giữa phụ nữ và nam giới. Phụ nữ phải dành nhiều thời gian hơn cho những công việc không được tính công trong gia đình. Trong khi đó, nam giới đầu tư nhiều thời gian hơn cho công việc ngoài gia đình V.V..
3. Việc làm và thu nhập của phụ nữ thành thị


3.1.     Đổ thi hóa và viêc làm của phụ nữ

Nói đến đô thị hoá là nói đến quá trình tích tụ dân cư và công nghiệp hoá , phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cùng nhiều yếu tố khác nữa.
ở Việt Nam, quy mô và tốc độ đô thị hoá còn thấp và không đồng đều. Trưóc năm 1975 do dân ở các nơi dồn về thành thị lánh nạn chiến tranh và làm ăn sinh sông nên tỷ lệ nhân dân ở thành thị ở Miền Nam khá cao, chiếm 31,3%. Trong khi đó ở Miền Bắc vì dân đô thị sơ tán về vùng nông thôn nên tỷ lệ dân số thành thị thấp, chỉ chiếm 12,3%- Bốn năm sau ngày giải phóng tỷ lệ dân số thành thị troñg cả nước là 19,26%. Đến 1989, tỷ lệ nhân khẩu thành thị trong tổng dân số có tăng lên nhưng không cao, khoảng 20,1% %(*). (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại: http://phunuonline24h.blogspot.com/2014/08/vi-tri-vai-tro-phu-nu-trong-oi-moi-kinh_36.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tim hieu ve phu nu, vai trò của người phụ nữ

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P17)

By
Như vậy, chúng ta có thể thấy, trong điều kiện kinh tế thị trường phụ nữ nông dân đã rất tích cực trong các hoạt động kinh tế và trong việc mở mang các ngành nghề phụ, song rõ ràng thu nhập của họ từ các hoạt động này còn rất hạn chế.
Giá trị công lao động của lao động nữ ở nông thôn hiện nay khá thấp. Phụ nữ được hỏi trong, các nghiên cứu cùa chúng tôi năm 1993 cho biết giá trị ngày công sản xuất nông nghiệp cao nhất của họ là 5 kg thóc, tức khoảng 5.000 - 6.000 đồng/1 ngày công. Đôi với các hoạt động phi nông nghiệp, nêu không phải là ngành nghề truyền thông hay dịch vụ buôn bán qui mô tương đôi lớn thì giá trị ngày công còn thấp hơn, hoặc chỉ tương đương với sản xuất nông nghiệp. Ví dụ một ngày công đan lưới của phụ nữ ở Đại Mỗ là xấp xỉ 3000đ, làm bún, nấu rượu thu nhập cũng tương tự. Hoặc một ngày công đội đất vào tháng 2/1994 ở Cẩm thuỷ, Thanh Hoá là 3000đ và 1 bữa ăn .v.v...
Vào những ngày nông nhàn, phụ nữ thường làm những việc như mò cua, bắt ôc, lấy củi, làm bánh, hái măng.v.v... Thực tế những công việc này rất thất thường vá không có ý nghĩa bao nhiêu về thu nhập.
Hiện nay chỉ có 22,4% số' hộ ở nông thôn trong cả nước là có khả năng vốn, máy móc và lao động để phát triển sản xuất nông sản hàng hoá. Trong khi đó 14,8% hộ nông dân vẫn sản xuất theo lối tự cung tự cấp bằng công cụ thô sơ, thù công và vì vậy năng suất rất thấp. Số còn lại 62,8% hộ bắt đầu sản xuất hàng hoá và có nhu cầu trang bị máy móc thiết bị (Nguyễn Điều, 1993).
Thu nhập của phụ nữ thấp hơn nam giới
Khi nói về giá trị công lao động của phụ nữ ở nông thôn không thể không nói đến một thực tế là công lao động của phụ nữ thường bị đánh giá thấp hơn công lao động của nam giới. Điều này thể hiện khá rõ qua việc so sánh tiền công hàng tháng của phụ nữ và nam giới. Bình quân hàng tháng tiền công của phụ nữ chỉ bằng 69% tiền công của nam giới. Tiền công trung bình của lao động nữ ở các vùng nông thôn có khác nhau song luôn thấp hơn tiền công trung bình của lao động nam từ 20 đến 40%, (Bảng 3.4).

(nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại: http://phunuonline24h.blogspot.com/2014/08/vi-tri-vai-tro-phu-nu-trong-oi-moi-kinh_93.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: người phụ nữ, vai tro cua nguoi phu nu

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P16)

By
Như đã nêu, phụ nữ làm thuần nông, hiện chiếm trên một nửa lao động nữ ở nông thôn, thường có mức thu nhập thấp nhất. Trong hầu hết các nghiên cứu của chúng tôi vào những năm 1992-1993 ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung cho thấy một lao động nữ thuần nông có thu nhập xấp xỉ 65.000đ/ tháng. So với mức thu nhập trung bình của công nhân nữ là 164.000đ/tháng và của lao động nữ trong các doanh nghiệp tư nhân là 144.000đ/tháng thì rõ ràng thu nhập của lao động nữ thuần nông là rất thấp ở nông thôn, nhìn chung, phụ nữ đơn thân ( goá chồng ly hôn, ly thân, không chồng có con ) là những người có thu nhập thấp hơn cả. Kết quả điều tra tại xã Hải Trung, Hải Hậu, Nam Hà năm 1993 cho thấy có tới 40% phụ nữ cô đơn rơi vào tình trạng thiếu ăn và nghèo đói, trông khi tỷ lệ này ở các gia đình đầy đủ là 25%. Có thể gặp tình trạng tương tự ở đội ngũ nữ công nhân lâm nghiệp. Theo điều tra điểm tại hai lâm trường thuộc huyện Đoan Hùng, Vĩnh Phú và Hàm Yên, Tuyên Quang, thu nhập bình quân đầu người/ tháng ở gia đình phụ nữ cô đơn là 30 - 40 000 đ/ tháng, ở các gia đình đầy đủ là xấp xỉ 100 000 đ/tháng (Thanh Tâm, 1994)(*).

Theo Tổng điêu tra dân số’ 1989, có 1,9 triệu phụ nữ goá bụa sớm ở nông thôn. Số phụ nữ đơn thân ( do ly hôn, không có chồng, ...) đông hơn nam giới trên 5 lần. Thu nhập và đời sống của nhóm phụ nữ này đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm.
Nhóm phụ nữ nông thôn có làm thêm các nghề phụ ở quy mô nhỏ và thiếu ổn định thì vẫn phải trông chờ vào nguồn thu nhập chủ yếu từ lúa, ngô, khoai, sắn tức là nghề nông.Thu nhập của nhóm này không cao hơn nhóm phụ nữ thuần nông bao nhiêu. Nghiên cứu của chúng tôi tại xã Phú túc, huyện Phú xuyên, Hà tây vào năm 1992 cho biêt ở đây có tới 91,4%sốlao động nữ nói là họ hoặc gia đình họ có làm thêm các nghề phụ song nguồn thu nhập chính vẫn là từ nông nghiệp chiếm 86,9% thu nhập nói chung ( Biểu đồ 3.1 ). (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại: http://phunuonline24h.blogspot.com/2014/08/vi-tri-vai-tro-phu-nu-trong-oi-moi-kinh_80.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữ học, vai trò của phụ nữ

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P15)

By
Hầu hết các hoạt động phi nông nghiệp như đan lát, buôn bán nhỏ, chê biến nông sản... thường có thu nhập thấp và không ổn định. Phần lớn những hoạt động này được phụ nữ chấp nhận vì không có cơ hội tìm những việc làm có giá trị ngày công cao hơn.
Công việc nội trợ dù quan trọng đối với mọi thành viên của gia đình và tổn nhiều thời gian, sức lực nhưng lại không được quan niệm và công nhận như là việc làm có công. Theo thói quen và quan niệm cô hữu nên công việc nội trợ thường bị coi là " việc vặt " , " việc không đáng kể ”, thậm chí không phải là một công việc thực sự.
Tính chất những công việc kể trên cho thấy phụ nữ nông thôn bị quá tải bởi những công việc có năng suất và thu nhập thấp. Đồng thời, họ hiện có quá ít cơ hội để lựa chọn việc làm, đặc biệt đối với những công việc mang lại thu nhập cao. Điều này cũng chứng tỏ có sự khác biệt lớn giữa phụ nữ và nam giới vể nhu cầu và khả năng tìm kiếm việc làm. Do thời gian lao động kéo dài, phụ nữ có ít điều kiện nắm bắt các cơ hội mới về việc làm. Trách nhiệm gia đình khiến phụ nữ ít có khả nắng tìm và duy trì được việc làm ổn định, có thu nhập cao
Tóm lại, những đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp đang tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy tính chủ động, tích cực trong hoạt động kinh tế. Song cơ hội việc làm, nội dung và tính chất lao động của phụ nữ nông thôn chưa được cải thiện bao nhiêu.
2.2. Thu nhẫp và giá tri công lao đông của phụ nữ nông thôn - Xu hưởng phân hoá thu nhập giữa các nhóm phụ nữ
Trước hết cần ghi nhận rằng nhờ tính tích cực, chủ động trong phát triển kinh tế hộ mà thu nhập của phụ nữ và gia đình họ được nâng lên một cách rõ rệt. Trong hầu hết các cuộc điều tra của chúng tôi ở nông thôn thường có tới 70% số phụ nữ được hỏi cho rằng thu nhập của họ và gia đình trong mấy năm gần đây đã khá hơn so với trước. Những phụ nữ có nghề phụ ổn định, hay buôn bán hoặc làm dịch vụ thường xuyên thì mức thu nhập của họ là khá cao, vượt trội so với nữ lao động thuần nông. Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể thì thu nhập của lao động nữ ở nông thôn hiện nay là thấp so với thu nhập của lao động nam và thấp hơn mặt bằng thu nhập của xã hội. (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại:





VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P14)

By
Lao động thô sơ, nặng nhọc thể hiện rõ ở cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp còn yếu kém và chậm được cải thiện rất chậm chạp. Đặc biệt là số lượng công cụ máy móc như máy kéo và máy bơm, thuốc trừ sâu và phân hoá học giảm từ năm 1985 đến năm 1990 ( Bảng 3.3).

Những sản phẩm công nghiệp dùng cho nông nghiệp có tăng lên vào đầu những năm 1990 nhưng sau đó chững lại và có vẻ như lại giảm bớt. Có lẽ đây là những dấu hiệu đáng lo ngại cho sự phát triển ngành công nghiệp và nông nghiệp trong những năm tới. Một ngành nông nghiệp thu hút nhiều lao động và năng suất thấp khó có thể giải phóng một phần nhân lực của mình cho khu vực công nghiệp có nhu cầu phát triển cao.
Các cuộc điểu tra phụ nữ nông thôn cho thấy thòi gian làm việc trung bình của người phụ nữ trong ngày là 12,5 tiếng. Con số này tăng lên vào mùa vụ, giảm chút ít trong thòi gian chuyển sang vụ khác vá còn tuỳ thuộc vào khu vực. Nữ nông dân miền Bắc, Bắc Trung Bộ và miền núi thường làm việc khoảng 14 tiếng một ngày. Phụ nữ cô đơn, phụ nữ nghèo là những người có ngày làm việc dài nhất ở nông thôn, thường không dưới 16 tiếng.
Bảng 3.3 : Cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp


1985
1990
1991
1992
1993
Máy kéo (chiếc )
31620
25086
35375
37627
37.000
Máy bơm (chiếc)
188631
168145
198334
225443
225500
Điện cho NN
(triệu Kwh)
308,5
586,8
807,4
975,0
1.000
Phân bón hoá học (đạn, lân), nghìn tấn
1818,9
2643,5
3165,6
3238,8
3250
Thuốc trừ sâu:





- San xuâ't
17,8
9,2
12,8
8,0
10
- Nhập khẩu
16,7
9,0
22,5
15,3
Nguồn : Tổng cục thống kê, Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1995, Hà Nội, 1995, trang 139-140
Các số liệu thông kê và điều tra trên diện rộng về việc làm ở nông thôn đồng thòi cho thấy số ngày nông nhàn trong năm cụa lao động nông thôn còn lớn. Ví dụ ở Thái bình là 135 ngày, Nam hà 116 ngày, Nha trang 175 ngày. Điều tra tại một xã ven đô thuộc huyện Từ liêm, Hà nội, nơi mặc dù có khá nhiều nghề phụ, cho thấy có gần 20% số người được hỏi thực sự thiếu việc làm vào những tháng nông nhàn, trong đó phụ nữ chiếm trên 60%.
Các con số nói trẽn đặt ra vấn đề vậy thì trên thực tế phụ nữ thiếu việc làm hay phải làm quá nhiều việc, còn gọi "quá tải " vì công việc? Để trả lời câu hỏi này cần tìm hiểu kỹ hơn tính chất lao động của phụ nữ. Công việc phụ nữ nông thôn thường làm thuộc các lĩnh vực sau: sản xuất thuần nông, phi nông nghiệp và nội trợ gia đình.
Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ và do đó có thời gian nông nhàn. Tuy nhiên điều đó mang tính tương đối, tuỳ thuộc vào hệ số quay vòng đất hoặc thòi vụ ở từng vùng. Đối với phụ nữ nông dân khái niệm "nông nhàn" ngoài tính tương đối còn mang tính tượng trưng. Sự thực là họ chỉ tạm nghỉ công việc này để làm công việc khác mà thôi. Chị Lư, một nông dân ở huyện Cẩm thuỷ, Thanh hoá mô tả thời gian nông nhàn củạ mình như sau: " Cấy xong tôi lêi/đồi phát nương, tra sắn rồi quay ra làm cỏ lúa. Lúc nghỉ thì tranh thủ đi củi, nấu rượu lấy bã nuôi lợn". Khi người phụ nữ cùng lúc vừa làm ruộng, vừa chăn nuôi và vừa:sản xuất, chế biến thực phẩm thì thật khó có thể nói đến " nông nhàn". (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại:

1 phút dành cho quảng cáo