Phụ nữ với quản lý Kinh tế - Xã hội (P5)

By
Về nguyên nhân có thể thấy rằng, đứng trữớc những yêu cầu mối, một số cán bộ nữ tỏ ra thiếu năng động, một bộ phận tỏ ra an phận, không thích ứng kịp vói những đòi hỏi ngày càng cao của công tác quản lý. Tuy nhiên, nguyên nhân chính cần tìm hiểu lại liên quan tới chính sách cán bộ thiếu đồng bộ và quan niệm còn khắt khe đối với phụ nữ nói chung và với cán bộ quản lý là nữ nói riêng.
Một số chính sách đôì với cán bộ nữ trước đây còn nặng về huy động, khai thác sự đóng góp của phụ nữ.
Một số chính sách khác xem xét việc để bạt, sử dụng cán bộ nữ chủ yếu dựa vào cơ cấu, chưa coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, chưa chú ý đầy đủ đến tiêu chuẩn và chất lượng cụ thể. Điều đó dẫn đến hiện tượng một số cán bộ nữ bị đề bạt "đuối", không phát huy được vai trò quản lý của mình. Tuy nhiên, hiện tượng thiếu đồng bộ về công tác tổ chức này đôi khi lại được xem là lỗi của cán bộ nữ và trở thành lý do coi nhẹ việc bồi dưỡng, thử thách, rèn luyện cán bộ nữ ở nhiều nơi khác.
Bên cạnh đó, do thiếu sự tổng kết, đánh giá kịp thời mà nhiều chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ nữ chưa phát huy tác dụng một cách thường xuyên và sâu rộng.
Bước vào thời kỳ chuyển đổi cơ cấu và cơ chế kinh tế, nhiều quy định về công tác đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt tỏ ra không phù hợp nhưng lại chậm được đổi mới. Một số chính sách khác chậm được cụ thể hoá và không ít những nội dung thiếu sự đảm bảo cần thiết về vật chất để đưa vào thực hiện.
Thái độ xem thường phụ nữ, đánh giá thấp năng lực của cán bộ nữ còn tồn tại ở một số cán bộ, đảng viên; mặt khác việc đánh giá khắt khe, đòi hỏi một chiểu ở phụ nữ tại nơi công tác cũng như trong đời sống gia đình đã hạn chế đáng kể điều kiện phát triển của đội ngũ cán bộ nữ.

Phụ nữ với quản lý Kinh tế - Xã hội (P4)

By
Ở một số ngành, ví dụ như ngành giáo dục đại học, tỷ lệ lao động nữ khá cao song tỷ lệ lãnh đạo nữ lại rất thấp. Hiệu trưởng, hiệu phó các trường đại học là nữ chiếm 4,4%; chủ nhiệm, phó chủ nhiệm khoa 8,3% ; lãnh đạo nữ cấp bộ môn là 13,7% và cấp phòng ban là 13,3%. (Nguyễn Thị Ngọc Anh, 1995)( [1] Hay như ở ngành công nghiệp nhẹ, nơi lao động nữ chiếm trên 70%, cán bộ lãnh đạo~nữ chỉ đảm nhận dưới 10% tổng số chức vụ.
Đáng chú ý là trong khi tỷ lệ cán bộ nữ vốn đã rất thấp thì lãnh đạo nữ chủ yếu đảm nhiệm cấp phó, nghĩa là phụ, giúp cho cấp trưởng, thường là nam. Chẳng hạn trong khi có 4,3% số chức vụ phó giám đốc do nữ phụ trách thì chỉ có 2,7% chức vụ giám đốc do nữ đảm nhận.
Đặc điểm thứ ba là đội ngũ cán bộ nữ "vừa hẫng hụt vừa thiếu đồng bộ". Điều này liên quan tói sự phân bô', trình độ và độ tuổi của cán bộ nữ. Cán bộ nữ, đặc biệt là ở cấp thứ, bộ trưởng và tương đương, tập trung chủ yêu vào các ngành liên quan đến phụ nữ và trẻ em, lĩnh vực xã hội và công tác đoàn thể. Tại những ngành và lĩnh vực kinh tế quan trọng như nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp, kế hoạch và đầu tư V.V.. chưa hề có cán bộ nữ giữ cương vị lãnh đạo cấp bộ.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ ở cấp trung ương vừa chiếm tỷ lệ lớn hơn vứa có trình độ cao hơn so với cán bộ nữ cấp cơ sở. Ví dụ, trong số 9635 nữ chủ tịch hội phụ nữ cấp xã phường trong cả nước thì chỉ có 2% tốt nghiệp đại học, 17,7% tốt nghiệp phổ thông trung học; Và đặc biệt, có tới 448 người, chiếm 4,6%, là mù chữ (Ngô Thị Ngọc Anh, 1995)^ Sự hẫng hụt đội ngũ còn thể hiện ở cơ cấu tuổi khá cao của các cán bộ nữ. Cán bộ quản lý nữ hầu hết đã trên dưối 50 tuổi, trong khi lực lượng kế cận trẻ lại hết sức thưa vắng.
Tóm lại, nghịch lý về cán bộ nữ ngày một bộc lộ rõ. Đó là khi công cuộc đổi mới kinh tế xã hội đang ngày c.àng cần có sự tham gia của phụ nữ thì đội ngũ lãnh đạo, quản lý nữ lại tỏ ra không theo kịp những yêu cầu của giai đoạn mới.

Phụ nữ với quản lý Kinh tế - Xã hội (P3)

By
Tuy nhiên, xu hướng giảm sút lực lượng cán bộ nữ diễn ra đáng lo ngại hơn ở cấp cơ sở. So sánh hai nhiệm kỳ 1985-1989 và 1989-1993, đại biểu nữ tham gia hội đồng nhân dân giảm tương ứng ở các cấp như sau: từ 28,6% xuống 12,2% ở cấp tỉnh thành; từ 19,4% xuống 12,3% ở cấp huyện và từ 19,7% xuống 13,2% ở cấp xã, phưòng (Trần Thị Quế, 1995).
Kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1994-1995 (10/1994) cho thấy tỷ lệ đại biểu nữ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành và quận, huyện đã tăng đáng kể, nhưng nữ tham gia Hội đồng nhân dân cấp cơ sở vẫn còn thấp, đạt 14,1% (Bảng 5.3).
Bảng 5.2: Tỷ lệ nữ đạĩ biểu Quốc hội có trình độ học vấn từ đại học trở lên trên tpng số nữ đại biểu Quốíc hội 1976-1997

Số lượng

Tông số nữ

Số có trình độ đại học trở lên

Khoá

đai biểu QH

Số lượng


%

VI (1976-1981)

132

14

10,6

VII (1981-1987)

108

12

11,1

VIII (1987-1992)

88

43

48,9

IX ( 1992-1997)

73

43

58,9

Nguồn : Số liệu của Văn phòng Quốc hội, 1993.

Hiện tượng giám sút đội ngũ cán bộ nữ không chỉ gặp ở các cơ quan dân cử mà còn gặp ở các cơ quan quản lý chuyên môn, nghiệp vụ. Cán bộ quản lý nữ được bổ nhiệm trong thời kỳ 1991-1993 nhìn chung giảm so với thời kỳ những năm 80. Hiện tượng này khá phổ biến ở nhiều ngành, kể cả những ngành có đông nữ như Công nghiệp nhẹ. Cán bộ nữ ở cấp trưởng thuộc ngành Công nghiệp nhẹ hiện chỉ chiếm từ 6 - 8% số chức vụ, cấp phó khoảng 10%, trong khi đó, trước đây những tỷ lệ này đều trên 16%
Bảng 5.3 : Tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo nhiệm kỳ, 1985 - 1999
Khoá Cấp HĐND ‘
1985-1989
1989-1994
1994-1999[1]



- Tỉnh, T.phố
28,6
12,2
20,4
- Qúận, huyện.
19,4
12,3
18,0
- Xã, phường
19,7
13,2'
14,1
Nguồn Số liệu của Ban tổ chức chính phủ, 1993;


(*) Chỉ tính cho 42 tỉnh thành* Báo cáo số 83 về kết quả tham gia bầu cử HĐND các cấp của Hộĩ LHPNVN, Hà Nội 12,1994.
Biểu hiện thứ hai về phạm vi lãnh đạo, quản lý còn hạn chế của phụ nữ là đội ngủ cán bộ nữ chưa tương xứng với vai trò của lao động nữ trong các khu vực kinh tê - xã hội. Ví dụ, năm 1992, phụ nữ nắm giữ từ 7% đến 9% các chức vụ lãnh đạo cấp bộ và khoảng 13% các chức vụ lãnh đạo cấp vụ trong khi lao động nữ chiếm 51% lực lượng lao động xã hội,
(Tiếp phần sau…..)

Phụ nữ với quản lý Kinh tế - Xã hội (P2)

By
Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nưóc, và đặc biệt là so với vai trò to lớn của lực lượng lao động nữ trong nền kinh tế quốc dân thi quy mô và mức độ tham gia của phụ nữ vào công tác lãnh đạo và quản lý còn rất hạn chế.
Điều này bộc lộ trước hết ở xu hướng giảm tỷ lệ cán bộ nữ trong những năm gần đây. Cán bộ nữ trong các cơ quan dân cử giảm sút ở tất cả các cấp song với tốc độ khác nhau ở từng cấp.
ở cơ quan quyền lực cao nhất do toàn dân bầu ra là Quôc hội, tỷ lệ nữ đại biểu đã giảm từ 32,3% khoá V, 1971 - 1976 xuống 17,7%, khoá VIII, 1987 - 1992. Tại Quốc hội khoá IX , 1992 - 1997, tỷ lệ nữ đại biểu đạt 18,5%. Như vậy là hiện nay tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội có tăng lên một chút so với khoá VIII, song vẫn còn thấp so với nhiều khoá trước (Bảng 5.1).
Bảng 5.1 : Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khoá V-IX, năm 1971 - 1997
 TT
Khoá Quốc hội
Tổng số đai biểu QH
Nữ đại biểu Quốc hội
số lượng
%
V
1971-1976
424
137
32,3
VI
1976-1981
492
132
26,8
VII
1981-1987
496
108
21,8
VIII
1987-1992
496
88
17,7
IX
1992-1997
Nguồn: Số liệu của Văn phòng Quốc hội, 1993.
Những thay đổi về quy mô tham gia của phụ nữ vào cơ quan lập pháp cao nhất là Quốc hội diễn ra theo hai giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn đầu từ khi thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hoà đến năm 1975, số lượng nữ đại biểu gia tăng nhanh chóng và đạt tỷ lệ cao nhất là 32,3% trên tổng số đại biểu Quốc hội vào khoá V, 1971 - 1976. Giai đoạn thứ hai từ khoá VI, 1976 - 1981, đến  khoá VIII, 1987 - 1992, như đã nêu, có sự giảm sút liên tục. Số lượng nữ đại biểu Quôc hội khoá VIII chỉ bằng 64% của khoá V ( Biểu đồ 5.1).
Quôc hội khoá IX, 1992 - 1997 hiện nay có phải là một mốc mới đánh dấu bước chuyển biến từ giảm sút sang gia tăng quy mô tham gia của phụ nữ với tư cách là đại biểu Quốc hội hay không? Có lẽ hãy còn quá sớm để khẳng định. Song khoá Quốc hội hiện nay đã đánh dấu sự tiến bộ về chất lượng tham gia quản lý lãnh đạo của phụ nữ.
Biểu đồ 5.1: Tỷ lệ nữ trên tông số đại biểu Quôc
hội khoá I - IX ( %)
Phụ nữ với quản lý Kinh tế - Xã hội (P2)

Nguồn : Số liệu của Văn phòng Quốc hội, 1993 Tiếng nói và chất lượng tham gia của từng đại biểu trên thực tế phụ thuộc vào trình độ và năng lực của mỗi người. Có thể thấy những tiến bộ lớn thể hiện ở trình độ văn hoá và chuyên môn của nữ đại biểu Quốc hội. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội có trình độ đại học trở lên trên tổng số nữ đại biểu đã tăng từ 10,6% khoá VI lên 58,9% khoá IX ( Bảng 5.2).

Phụ nữ với quản lý Kinh tế - Xã hội (P1)

By
1. Phụ nữ quản lý xã hôi
Phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý được coi là biểu hiện sinh động cho khả năng làm chủ xã hội của giới nữ. Đó còn là thước đo mức độ công nhận và đánh giá của xã hội đối với vị trí, vai trò cũng như trình độ và năng lực quản lý của người phụ nữ.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã từng ghi nhận biết bao tấm gương chói lọi về người phụ nữ giỏi cầm quân, cầm quyền và điều hành công việc đất nước. Tư tưởng và tập quán lâu đời của người Việt Nam là tôn trọng phụ nữ. Thái độ trọng nam khinh nữ từ thòi phong kiến đang bị lên án, đấu tranh và xoá bỏ. Sự tham gia tích cực và có hiệu quả của phụ nữ vào công tác quản lý đã có tác động tích cực trở lại đối với vị thế xã hội của họ.
Thực tế là phụ nữ Việt Nam đã và đang tích cực tham gia công tác lãnh đạo, quản lý ở tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Báo cáo của Chính phủ về tình hình bầu cử hội đồng nhân dân các cấp năm 1994 cho thấy khá rõ điều đó. Tại 30 tỉnh thành, chiếm 57% số tỉnh thành trong cả nước, tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh đạt từ 20% trở lên. Ở một số nơi đại biểu nữ chiếm tỷ lệ khá cao như Hà Giang 35%, Tuyên Quang 34%.
Phụ nữ không chỉ làm công tác quản lý nhà nước mà còn lãnh đạo kinh tế. Nhiều doanh nghiệp quôc doanh và ngoài quốc doanh hiện nay làm ăn có hiệu quả trước hết là do có cán bộ quản lý giỏi. Trong số đó có thể kể tên một số giám đốc nữ như Tổng giám đốc Công ty sữa Việt Nam Mai Kiều Liên, giám đốc Công ty kẹo Hải Hà Lệ Thuý, V.V.. (Lê Huyền Thông, 1995).
Trong công tác, cán bộ nữ không chỉ bộc lộ và phát huy được năng lực quản lý cao, trình độ chuyên môn giỏi mà còn thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm và thái độ tận tuỵ của mình. Trong những trường hợp cán bộ lãnh đạo, cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật Đảng và xét xử trước pháp luật nữ chiếm một tỷ lệ rất thấp, chỉ từ 2,4% đến 3%.

1 phút dành cho quảng cáo