VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P24)

By
Thứ ba là vai trò điều tiết của các chính sách về lao động và việc làm chưa theo kịp những yêu cầu của tình hình mới. Ví dụ, Bộ luật Lao động ban hành năm 1994, nhưng đến năm 1995 còn thiếu một số văn bản hướng dẫn thực hiện nên nhiều quy định của Bộ Luật chưa phát huy tác dụng trong thực tế cuộc sống. Một ví dụ khác là trong khi sự nghiệp đào tạo và giáo dục có xu hướng thực sự trở thành một trong những trọng tâm chiến lược của phát triển kinh tế xã hội, thì chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ trong khu vực này chậm đổi mới. Kết quả là hiện tượng giáo viên bỏ việc hoặc ít quan tâm đên nghề nghiệp đang làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu giáo viên và xuống cấp về chất lượng của ngành giáo dục phổ thông.
Riêng đối với lao động nữ, sự điều chỉnh vĩ mô thông qua các quy định của Nhà nước hầu như bị buông lỏng. Cơ chế kiểm tra, giám sát các vấn đề về lao động nữ không được các cấp quan tâm. Vấn đề lao động nữ hầu như phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng đơn vị. Tuy nhiên, ngay trong những đơn vị kinh tế được coi là đã trụ vững trong môi trường cạnh tranh thì việc làm của nữ công nhân cũng không ổn định. Trong cuộc điều tra 134 lao động nữ vào tháng 9/1993 tại 6 doanh nghiệp quôc doanh ở Hà nội - Hà đông cho thấy chỉ có 65% số nữ công nhân cho biêt việc làm của họ là khá đều đặn.số còn lại có việc làm không thường xuyên, Như vậy, từ khía canh xã hội, 35% nữ công nhân chưa có việc làm đểu đặn là con số đáng kể.
Tóm lại là khu vực kinh tế nhà nước đang có những thay đổi lốn về cơ cấu, tổ chức và quản lý. Những chuyển biến như vậy có xu hướng thu hẹp số iượng việc làm và thay đổi tính chất lao động. Trong bối cảnh này, chịu tác động của những tính toán hiệu quả đơn thuần từ phía người sử dụng lao động, lại thiếu sự chỉ đạo, điều tiết của chính sách vĩ mô, một bộ^phận nữ cán bộ, c ở ng nhân viên đã rơi vào tình trạng không có việc làm hoặc việc làm không ổn định. Lao động nữ ngày càng khó tim kiếm việc làm trong khu vực kinh tế nhà nước. (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại:




VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P23)

By
Trên thực tế, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ có thấp hơn so với lao động nam. Về mặt thể lực, đặc biệt là sức khoẻ cơ bắp, phụ nữ cũng yếu hơn nam giới. Tuy nhiên, những vấn đề này hoàn toàn không phải là vấn đề mới. Hơn thế, xét riêng về trình độ chuyên môn, kỹ thuật thì ngày nay khoảng cách nam và nũ đã thu hẹp hơn nhiều so với những năm 60. Vậy vấn đề đặt ra là tại sao lao động nam hiện nay có khả năng duy trì và tìm kiếm việc lảm thuận lợi hơn lao động nữ? ở đây có mộtsốkhía cạnh cần quan tâm:
Biểu đồ 3.3 : Tỷ lệ lao động nữ trong một số ngành thuôc khu vực nhà nước 1989 - 1992, %
VỊ TRÍ, VAI TRÒ PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P23)

Nguồn: Tổng cục thông kê, Tổng điều tra dân số 1989 ;sốliệu về lao động xã hội 1993.
Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế dẫn đến việc giảm tương đối quy mô khu vực quốc doanh. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, việc giải thể các đơn vị kinh tế thua lỗ đã đặt nhiều lao động, cả phụ nữ và nam giới trước tình trạng chung là thất nghiệp hoặc thiếu việc làm. Các đơn vị kinh tế đang hoạt động cũng gặp nhiều khó khăn. Các báo cáo về việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước cho biết khu vực này chưa đủ khả năng tạo việc làm cho số lao động hiện có. Lấy ví dụ, tính riêng các doanh nghiệp nhà nước trung ương đã được thành lập lại (theo Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 về quy chế thành lập và giải thể các doanh nghiệp nhà nước), số lao động chưa bô" trí được việc làm, tính đến tháng 4/1993 là 40.000 người, chiếm 6,5% số lao động hiện có. Tỷ lệ này đối với các doanh nghiệp ở Bộ Xây dựng là 15%, Bộ Công nghiệp nặng là 7%. Tính riêng ở Hà Nội, năm 1993 mới có 31 trên 52 đơn vị kinh doanh được khảo sát tạo đủ việc làm cho người lao động.
Thứ hai, quá trình chuyển đổi cơ cấu đã tỏ ra không công bằng trong đánh, giá và đối xử với giới nữ. Phụ nữ không chỉ chiếm trên 60% số người ra khỏi khu vực nhà nước. Họ còn chiếm số đông lao động trẻ chờ việc. Số lao động mới tuyển dụng ở một số ngành giai đoạn l992-1994 hầu hết là nam giới. (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại: http://phunuonline24h.blogspot.com/2014/08/vi-tri-vai-tro-phu-nu-trong-oi-moi-kinh_76.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: phu nu hoc, vai tro cua phu nu

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P22)

By
Biểu đồ 3.2 : Tỷ lệ lao động nữ trong khu vực nhà nước 1955 - 1992 (%)


VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P22)

Nguồn : Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phụ lục Báo cáo tại Đại hội phụ nữ lần thứ V, tr.75; Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê 1993.
Những năm gần đây, cùng với việc giảm biên chế và cơ cấu lại khu vực kinh tế Nhà nước, nhiều ngành thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội đã giảm đáng kể số lượng lao động. Trong quá trình này, tỷ lệ lao động nữ giảm sút nhanh, từ chỗ chiếm khoảng 50% tổng số lao động trong một số ngành, nay chỉ còn dưới 30%. Một số ngành khác mặc dù còn duy trì tỷ lệ lao động nữ tương đối cao song nhìn chung đang trên đà giảm sút ( Biểu đồ 3.3 ).
Một trong những vấn đề đặt ra ở đây là vì sao nữ cán bộ, công nhân viên lại ra kh ở i khu vực nhà nước nhiều hơn và nhanh hơn so với các đồng nghiệp nam của họ? Có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng vì lao động nữ được huy động ồ ạt trong những năm 60, 70 lại chưa coi trọng chất lượng nên đến nay không còn phù hợp. Nhưng nếu điều này đúng thì cần thấy rằng nó không chỉ đúng riêng đối với lao động nữ. Bước vào giai đoạn đổi mới, trước yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá, sự bất cập về trình độ chuyên môn, kỹ thuật, năng lực quản lý, V.V.. của lực lượng lao động nước ta đang là vấn đề lớn không riêng đối với phụ nữ mà ngay cả với nam giới.
Có ý kiến đưa ra quy luật cung cầu về lao động để giải thích hiện tượng nói trên. Song cần lưu ý là thị trường lao động cũng như bản thân quan niệm coi lao động là hàng hoá cũng chỉ mới xuất hiện trong mấy năm gần đây. Do vậy hiện tượng vừa thừa vừa thiếu lao động và tình trạng khó khăn về việc làm đối với lao động nữ chỉ cổ thể được giải thích bằng những thay đổi trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và cơ chế kinh tế.
Cũng có thể ý kiến cho rằng do trình độ thấp và sức khoẻ yếu hơn, phụ nữ khố có thể cạnh tranh được với nam giới và vì thế, việc họ ra khỏi biên chế nhiều hơn là điều khó tránh khỏi. (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại: http://phunuonline24h.blogspot.com/2014/08/vi-tri-vai-tro-phu-nu-trong-oi-moi-kinh_96.html

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P21)

By
Cơ cấu lại khu vực nhà nước*
Ở nước ta trong một thời gian dài, bắt đầu từ 1955, lao • động nữ tăng nhanh và chiếm tỷ lệ khá cao trong khu vực kinh tế nhà nước.
Năm 1992, lao động nữ ở khu vực hành chính, ồự nghiệp chiếm 50,0% tổng số lao động. Tỷ lệ phụ nữ cao nhất là trong y tế và giáo dục. Nữ cán bộ công nhân viên trong ngành Y tế là 62,3%; trong ngành Giáo dục và đào tạo là 76,2%, trong đó giáo dục mầm non và phổ thông cấp I là trên 80%. Tuy nhiên, xét toàn bộ khu vực quốc doanh thì ngay ở thời điểm cao nhất lao động nữ cũng chưa bao giờ vượt quá 50% tổng số' lao động. Mức độ tham gia của lao động nữ vào khu vực kinh tế nhà nước có biến động rõ rệt qua các thời kỳ.
Số lượng lao động nữ ở khu vực nhà nước tăng nhanh trong những năm 60 và đến giữa những năm 70. Chúng ta biết đây là thời kỳ miền Bắc dồn sức người và các nguồn lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc. Nam giới được huy động ra tiền tuyến còn phụ nữ, bên cạnh việc sát cánh cùng cha anh trên mặt trận đã được động viên thay thế nam giới ở hậu phương trên rất nhiều lĩnh vực. Kết quả là tỷ lệ lao động nữ trong khu vực quốc doanh đã tăng từ 15% năm 1960 lên trên 42% năm 1975.
Tuy nhiên, sau thời điểm này bắt đầu có những thay đổi. Nhịp độ tăng tỷ lệ lao động nữ có xu hướng giảm sút vào cuối những năm 1970 và giảm nhanh hơn trong những năm gần đây ( Biểu đồ 3.2). Điểu này phần nào có thể cho thấy cho thấy tính chất " dự bị ", " lấp chỗ trông " của lực lượng lao động nữ khu vực quốc doanh trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
Xu hướng giảm lao động nữ trong khu vực nhà nước thể hiện rõ hơn trong một số ngành kinh tế quốc dân. Khi xem xét điều này có thể thấy tính chất không đồng đều, mất cân đối của việc phân bố lao động nữ. (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại: http://phunuonline24h.blogspot.com/2014/08/vi-tri-vai-tro-phu-nu-trong-oi-moi-kinh_38.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tim hieu ve phu nu, vai trò của người phụ nữ

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỔI MỚI KINH TẾ XÃ HỘI (P20)

By
Mặc dù vậy, thành thị vẫn được coi là nguồn động lực và ctrung tâm phát triển kinh tế xã hội của cả nước. Trong điều kiện vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa thì vai trò đi đầu này của thành thị càng thể hiện rõ.
Điều đó có nghĩa là bất kỳ một thay đổi nào ở khu vực thành thị đều ảnh hưởng tói tình trạng việc làm của phụ nữ và thị trường lao động xã hội trong cả nước. Đồng thời, các đặc điểm lao động nữ ở thành thị phản ánh khái quát không chỉ thực trạng mà cả xu hướng việc làm trong trong giai đoạn đổi mới kinh tế đất nước. Vì vậy cần tìm hiểu và đánh giá đúng đắn tình hình lao động và việc làm của phụ nữ thành thị.
Số lượng và tính chất việc làm ở thành thị đang có những thay đổi lớn do tác động của ba loại yếu tố sau đây. Một là sự gia tăng dân số thành thị, hai là quá trình cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nước và ba là sự phát triển đa dạng của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
Gia tăng dân số thành thi
Mặc dù chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình thực hiện có kết quả nhưng tốc độ tăng dân số Việt Nam hiện nay. vẫn còn ở mức khá cao, khoảng 2,2%/ năm. Tốc độ tăng lực lượng lao động hàng năm trong suốt thòi kỳ 1979 - 1994 được duy trì ổn định và ở mức cao, khoảng 3%. Điều này có nghĩa là hàng năm, thị trường lao động nước ta có thêm khoảng 1,5 triệu người đến tuổi lao động. Trong khi đớ, ngay từ năm 1989, tỷ lệ người không có việc làm ở khu vực thành thị đã là 14% đôi với nữ và 13% đối với nam(*). Cũng như ở nông thôn, số phụ nữ trong độ tuổi lao động ở thành thị luôn cao hơn nam giới. Năm 1989, tổng số lao động nữ ở thành thị là 3,89 triệu người, đông hơn so với nam 3,45 triệu.
Trong những năm gần đây, dân số thành thị tăng nhanh còn do dòng người di cư từ nông thôn ra thành phố’. Số liệu thông kê chính thức cho đến nay chưa phản ánh đầy đủ số lượng người nhập cư vào các đô thị. Tuy nhiên, hiện tượng lao động chân tay từ nông thôn ra với số lượng lớn và đang thay thế lao động thành thị ở những khâu lao động nặng nhọc, điều kiện làm việc khó khăn, giá ngày công thấp là khá phổ biến. Riêng ở Hà Nội, lao động nông thôn ra làm việc theo mùa vụ ước tính khoảng 30.000 - 40.000 người hàng năm (Mỹ Hằng, 1996/ ). Trong số này, lao động nữ từ nông thôn ra cũng đang góp phần làm thay đổi phân công lao động trên địa bàn đô thị và làm phong phú cảc dịch vụ cho người thành phô". Các dịch vụ buôn bán. hàng rong (rau, qủa, hàng tiêu dùng...), thu hồi phế liệu, giúp việc gia đình V.V.. đang được thực hiện chủ yếu bởi lao động nữ nông thôn. Trong tương lai, số lượng và phạm vi việc làm do lao động nông thôn đảm nhận trên địa bàn thành phô" chắc sẽ tăng nhanh. Đây là vấn đề cần được tính đến đầy đủ trong quá trình đô thị hoá ở nước ta. (nối tiếp phần sau……….)

Đọc thêm tại:

1 phút dành cho quảng cáo